#Về_tiếng_Nhật

#Về_tiếng_Nhật

Huyền thoại về tiếng Nhật (The myth for Japanese) P1

Hôm đầu tiên đi học English Foundation, giáo viên tiếng Anh nói, đại khái, tiếng Nhật là ngôn ngữ khó học nhất thế giới. Lời này không hẳn đoán mò. Các nhà nghiên cứu Âu Mỹ xưa nay cũng đều chung một ý kiến. Nhưng thế giới nào? "Thế giới" ở đây được cho là thế giới của những người nói tiếng Anh, mà độ phủ sóng đã lan rộng khắp hành tinh. Dân số chiếm 1/4 số dân toàn cầu, Trung Quốc luôn trở thành mối lo của thế giới rằng quốc gia này sẽ đưa tiếng Hoa vượt mặt các ngôn ngữ còn lại. May thay, phần lớn người dân lại đổ xô đi học Anh ngữ. Lúc này, "thế giới" một lần nữa được cũng cố bởi cả tân và cựu hay lục địa già và trẻ, nay có thêm cả trung tâm trái đất – China, Chinese.

Nhưng có một quốc gia mà Basil Hall Chamberlain, nhà nghiên cứu văn học Nhật, from England đã gọi với cái tên "Topsy-Turvydom" – "Thế giới của mọi thứ đảo ngược" với quan điểm "người Nhật làm nhiều thứ hoàn toàn trái ngược với những gì người châu Âu cho là tự nhiên và phù hợp". Các chị thợ may xâu kim bằng cách đẩy lỗ kim lên sợi chỉ thay vì đút sợi chỉ vào lỗ kim. Họ cũng lấy vải đập vào kim thay vì lấy kim đột qua vải. Cùng với lên ngựa từ bên phải, cưa bằng cách kéo về phía mình, và ở Nhật Bản, thợ gốm đạp bàn xoay bằng chân trái theo chiều kim đồng hồ, khác với thợ gốm châu Âu hoặc Trung Quốc đạp bằng chân phải và vì thế xoay theo hướng ngược lại. (1)

Sư đối lập, như vậy, không chỉ với mỗi châu Âu mà còn với cả châu Á đại lục.

Ai đọc qua tiểu thuyết Kim Dung đều không thể quên con người mang kì danh Đông Tà – Hoàng Dược Sư, Hoàng Lão Tà. Nhân vật Đông Đà được phân tích rất hay qua ngòi bút sắc xảo, uyên bác của Nguyễn Ngọc Huy, hiện nguyên hình một Nhật Bản thu nhỏ với tất cả các đặc tính dưới cái nhìn của Kim Dung, một người đại diện cho cái nhìn từ văn hóa Trung Hoa đại lục sang văn hóa của bán đảo hoa Anh đào. (2) Chủ yếu từ những phương diện sau:

1. Các sáng chế văn hoá đặc biệt của người Nhật so với văn hoá Trung Hoa

"Tuy có học các môn võ thuật Trung Hoa, Đông Tà đã không dùng các môn ấy mà tự sáng chế ra một số môn võ riêng cho mình như Lạc Anh Chưởng, Phách Không Chưởng, Tảo Diệp Thoái, Ngọc Tiêu Kiếm Pháp, Đạn Chỉ Thần Công …

Một trong các võ khí của Đông Tà là cây ngọc tiêu. Tiếng tiêu của ông thổi có thể êm đềm hoà dịu, nhưng cũng có thể khêu gợi các tình cảm của người một cách mãnh liệt, nhứt là bản Thiên Ma Vũ Khúc kích thích dục tình rất mạnh mẽ và có thể làm cho người nghe điên loạn được. Để bảo vệ căn cứ của mình, Đông Tà đã dựa vào Kỳ Môn Bát Trận của Khổng Minh mà lập ra một Phản Kỳ Môn Bát Trận, bao trùm gần hết đảo Đào Hoa. Trận đồ của Đông Tà cũng dựa vào các nguyên tắc sinh khắc, âm dương, ngũ hành, nhị thập bát tú và 64 quẻ kép của Bát Quái cùng các đặc tánh của các quẻ đó như trận đồ của Khổng Minh. Tuy nhiên, trong các trận đồ của Đông Tà, vị trí các quẻ lại ngược lại vị trí các quẻ trong trận đồ Khổng Minh.

Với các chi tiết trên đây, Kim Dung ám chỉ rằng tuy có học theo văn hoá Trung Hoa người Nhựt vẫn có những sáng chế của mình và có khi biến chế văn hoá Trung Hoa để áp dụng cho mình. Về tôn giáo thì ngoài Nho Giáo, Phật Giáo và Đạo Giáo, họ còn có một tôn giáo là Thần Đạo. Về văn tự, tuy có dùng chữ Hán, họ lại có những thứ chữ đặc biệt cho họ là katakana và hiragana. Về võ thuật, họ có các môn đặc sáng như Nhu Đạo (Judo), Hiệp Khí Đạo (Aikido), Kiếm Đạo ( Kendo)."

2. Sự dị biệt giữa người Nhật và người Trung Hoa về tâm tánh và cách xử sự

"Các đặc tánh của người Nhựt cũng đã được Kim Dung mô tả qua tâm tánh và lối xử sự của Đông Tà.

Nhơn vật này vốn cao ngạo, ương gàn, không xem thiên hạ ra chi. Khi ông muốn làm gì thì ông nhứt quyết làm cho bằng được, bất chấp dư luận. Ông đã huấn luyện môn đồ và con gái ông theo tinh thần trọng thực danh, không câu nệ tiểu tiết, có thể trộm cắp, cướp giựt của người những khi cần. Trong thực tế, Đông Tà đã có đủ phương tiện ăn xài huy hoắc và lập một căn cứ vừa kiên cố vừa sang trọng là vì ông đã dựa vào võ công siêu tuyệt của minh để đi lấy tiền của người giàu có hoặc đi tống tiền các tiêu cục lớn làm ăn phát đạt. Ông đã điềm nhiên nhận lãnh danh hiệu kẻ cướp mà người ta gán cho ông. Ông đã tìm mọi cách chiếm cho được CỬU ÂM CHƠN KINH và đã dùng cách bắt nhốt Châu Bá Thông để nhờ sự tỷ thí với ông này mà học các bí pháp chiến đấu của phái Toàn Chân.

Qua sự mô tả này, Kim Dung đã cho thấy rằng trái với người Trung Hoa thiên về lý thuyết và quay lưng lại khoa học thực nghiệm, người Nhựt đã hướng nhiều hơn về sự thực hành và đã tỏ ra tha thiết học về khoa học thực nghiệm. Họ đã dùng mọi biện pháp để học hay đánh cắp các phương pháp chế tạo hữu hiệu của các dân tộc khác đem về áp dụng trong nước họ. Mặt khác, người Nhựt cũng đã tỏ ra thái quá trong sự tự hào về nòi giống mình cũng như trong ý chí bành trướng thế lực. Thời trước, hải tặc Nhựt đã cướp bóc thương thuyền các nước trên biển, có khi còn đổ bộ lên cướp bóc trên lãnh thổ Trung Hoa. Sau khi canh tân và trở thành cường thạnh, nước Nhựt còn đi xâm chiếm thuộc địa và trước Thế Chiến II, đã nghiễm nhiên xưng danh là Đế Quốc Nhựt Bổn, chớ không xấu hổ khi bị công kích về chánh sách đế quốc của mình."

3. Tinh thần quốc gia đặc biệt của người Nhật

"Trong sự đối xử với kẻ khác, Đông Tà nhiều khi tỏ ra gian giảo và tàn độc. Lúc mới gặp Trung Thần Thông lần đầu ở hoang đảo Đông Tà đã dùng lối thổi ống tiêu khích động tâm thần của Trung Thần Thông, nếu ông này định lực yếu kém thì không khỏi bi tẩu hỏa nhập ma, chết ngay tức khắc. Để có CỬU ÂM CHƠN KINH mà nghiên cứu, Đông Tà đã bày mưu gạt Châu Bá Thông đánh cuộc với mình, và dùng thủ đoạn xảo trá để thắng cuộc, với mục đích làm cho Châu Bá Thông phải trao CỬU ÂM CHƠN KINH cho vợ mình đọc. Trong việc làm này, ông đã khai thác tánh ngây thơ của Châu Bá Thông và việc Châu Bá Thông không biết rằng bà vợ của Đông Tà có khả năng thuộc lòng một bản văn khó hiểu sau khi đọc bản văn ấy một lần. Bộ hạ Đông Tà gốc là những người tàn ác bị Đông Tà bắt được rồi cắt lưỡi, đâm lủng tai cho trở thành câm điếc để dùng. Sau khi hai người đệ tử là Trần Huyền Phong và Mai Siêu Phong trái môn qui tư tình nhau rồi đánh cắp CỬU ÂM CHƠN KINH để rốn đi, Đông Tà đã trừng phạt các đệ tử khác bằng cách cắt đứt gân chơn của họ rồi đuổi ra khỏi đảo Đào Hoa, mặc dầu các đệ tử này vô tội. Khi gặp lại Mai Siêu Phong, mặc dầu đã thấy là lúc nghe tin mình bị hại, bà này tỏ ý sẵn sàng đi báo thù cho mình, Đông Tà vẫn không tha tội và cấy vào khớp xương sổng của bà một cây phụ cốt châm có tẩm chất độc, chất độc này mỗi ngày vận hành sâu lần làm cho người bị hình phạt đau đớn không chịu nổi. Đông Tà chỉ hoãn cho phụ cốt châm này không hành hạ Mai Siêu Phong ngay và đặt ba điều kiện cho Mai Siêu Phong thi hành để được tha hẳn. Trong các điều kiện này, có việc tìm phần CỬU ÂM CHƠN KINH mà vợ chồng bà đã đánh cắp rồi làm một cuộc điều tra để giết tất cả ai đã đọc qua tài liệu này, và việc tự hủy phá công phu mà bà đã học trong CỬU ÂM CHƠN KINH đã đánh cắp. Nhưng tuy khắc nghiệt đổi với đệ tử Đông Tà lại không chấp nhận cho người khác đụng đến đệ tử của mình, dầu cho họ có lỗi lầm sai quẩy.

Những điều trên đây cho thấy rằng trong con mắt Kim Dung, nước Nhựt không ngần ngại dùng bất cứ phương tiện nào để đạt các mục tiêu của mình và các thủ đoạn cùng phương pháp hành động bạo tàn của nước ấy đã được áp dụng không những cho người ngoại quốc mà cho cả người công dân Nhựt, mặc dầu lúc nào nước Nhựt cũng tận lực binh vực các công dân của mình đối với người ngoại quốc. Điều đáng để ý là tuy đã bị thầy đối xử một cách hết sức tàn nhẫn ác độc và bắt theo một kỷ luật rất gắt gao, bọn đồ đệ của Đông Tà đều hết sức tôn trọng thầy và tuyệt đối trung thành với thầy. Lục Thừa Phong cũng như Khúc Linh Phong đã hoàn toàn tuân theo môn qui của Đông Tà, không hề dạy con các môn võ mình đã học với ông. Riêng Khúc Linh Phong tuy bị Đông Tà làm cho tàn tật đã lén vào cung vua nhà Tổng đánh cắp các đồ trân bảo và các danh hoạ với mục đích đem dâng cho thầy về sau . Phùng Mặc Phong thì đến già vẫn nhớ đến thầy và tận lực chiến đấu bảo vệ thanh danh của thầy. Ngay đến Mai Siêu Phong cũng đã liều mạng đỡ đòn của Tây Độc thay thầy và do đó mà phải chết. Nhưng trước khi chết, bà đã tự làm cho hai tay bi gãy để hủy diệt các công phu Cửu Âm Bạch Cốt Trảo và Tồi Tâm Chưởng đã học trong CỬU ÂM CHƠN KINH mà vợ chồng bà đã đánh cắp của thầy, theo điều kiện mà Đông Tà đã đặt ra cho bà trước đây. Khi được Đông Tà ngỏ lời khen ngợi và nhìn nhận lại là đệ tử trung thành, bà hết sức vui mừng và lạy thầy đến chết.

Các sự kiện trên đây đã được dùng để mô tả tinh thần ái quốc và sự trung thành không bờ bến mà nước Nhựt đã đào tạo được cho con dân mình bằng một kỳ luật rất nghiêm ngặt và một chánh sách khắc nghiệt. Ta có thể nhận thấy rằng các đệ tử của Đông Tà dầu trước có tên gì thì cũng đều đổi lại tên Phong khi về đảo Đào Hoa. Chữ Phong ở đây có nghĩa là gió, giồng như chữ Phong trong danh từ nổi tiếng của Nhựt là Thần Phong (Kamikaze). Thần Phong nguyên là danh từ dùng để chỉ trận bão lớn năm 1281 đã làm đắm nhiều chiến thuyền của hạm đội Mông Cổ được lịnh tiến đánh nước Nhựt, làm cho nước này khỏi nạn bị xâm chiếm. Trong thời Thế Chiến II, người Nhựt đã dùng danh từ Thần Phong để đặt cho các đội phi công cảm tử tình nguyện lao phi cơ chứa đầy chất nổ của mình xuồng các chiến hạm Đồng Minh và nổ tung với các chiến hạm này, với hy vọng giữ cho nước Nhựt khỏi thua trận.

Các tên Huyền Phong, Siêu Phong, Thừa Phong, Linh Phong, Mặc Phong của đám đệ tử Đông Tà đều có liên hệ với danh từ Thần Phong. Nó cho thấy rằng họ tiêu biểu cho tinh thần cảm tử của người Nhựt trong thời từ Thế Chiến II trở về trước. Ngoài họ ra, Đông Tà không còn huấn luyện người đệ tử nào khác trong tinh thần đó. Khi trở về già, Đông Tà có lúc đã tỏ ra hối hận vì đã xử sự quá khắc nghiệt với học trò mình. Những điều này dùng để ám chỉ rằng sau Thế Chiến II, mặc dầu còn tồn tại như một đại quốc, nước Nhựt đã thay đổi chánh sách và không còn quá khắc nghiệt đối với công dân mình như trước."

Châu Âu nhìn Nhật Bản như một sự đảo ngược, còn Trung Hoa thì bằng con mắt kì quái, tà. Nhật Bản trở nên một vị thế tách riêng ra khỏi hai thế giới, hai nền văn hóa ấy, đồng thời nó lại có biệt tài "thuần hóa cái xa lạ" (Claude Lévi – Strauss).

Trong chữ viết chẳng hạn. Toàn bộ hai bảng chữ cái Hiragana và Katakana đều bắt nguồn từ hình thức đơn giản của chữ Hán. Hiragana dựa trên các kí tự viết theo Sōsho (草書) – phong cách thư pháp chữ Thảo do Trương Húc (張旭, khoảng 658 – 747), tên chữ Bá Cao (伯高); là nhà thơ và là nhà thư pháp nổi tiếng thời nhà Đường, Trung Quốc tạo ra. Tuy cố thoát khỏi cái bóng chữ viết của văn hóa Hán nhưng đến nay hơn 96% chữ Kanji vẫn có mặt trong các văn bản hành chính. Ngay cả niên hiệu mới , Lệnh Hòa – 令和 (reiwa) cũng bắt nguồn từ bài "Phú về vườn" (歸田賦) của Trương Hành (張衡) (78-139), bác học và một trong Tứ đại phú đời Đông Hán. Tinh thần quốc gia mạnh mẽ khiến người Nhật thuần hóa tất cả những thứ ngoại lai, như tiếng Anh.

Tiếng Nhật có tất cả 5 nguyên âm: /a, i, u, e, o/ và 12 phụ âm: /k, s, t, g, z, d, n, m, h, b, p, r/ một số lượng khá ít so với các ngôn ngữ khác. Ngoài ra còn có hai âm đặc biệt là âm mũi (N-ん) và âm ngắt (Q). Tiếng Anh có 5 nguyên âm: /a , e , o , i , u/. Và 21 phụ âm: /b , c , d , f , g , h , j , k , l , m , n , p , q , r , s , t , v , w , x , y , z /. Tiếng Nhật khi phiên âm tiếng Anh nghe rất lạ tai hay còn gọi là Anh-Nhật, dùng loại chữ Katakana để ghi âm. Vd:

– Chocolate /'t∫ɔkəlit/ = チョコレート/Chokore-to/ (Chồ kô rê tộ).

– cake /keik/ = ケーキ /ke-ki/ (kê kì).

– soccer /'sɔkə/ = サッカー/sakka/ (sắc kà).

– cup /kʌp/ = カップ /kappu/ (kap pự).

– robot /'roubɔt/ = ロボット /robotto/ (rô bôt tộ).

– bed /bed/ = ベッド /beddo/ (bết độ).

– coffee /'kɔfi/ = コ一ヒ一 /ko-hi-/ (kô hi).

– hamburger /'hæmbə:gə/ = ハンバーガー /hanba-ga-/ (ham ba gà).

– computer /kəm'pju:tə/ = コンピューター /konpyu-ta-/ (kôn pyu tà).

Chú thích phần 1:

(1) "Mặt khác của trăng, Khảo luận về Nhật Bản", Claude Lévi – Strauss, Nguyễn Duy Bình (dịch), Nxb Thế Giới, 2018.
(2) "Các ẩn số chánh trị trong Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung", Nguyễn Ngọc Huy, Nxb Thanh Phương Thư Quán, 1986.